Site icon

Tàu sân bay Mỹ rút khỏi Đông Á, đồng minh đối mặt với khoảng trống an ninh

avatar1786869059908-1786869060270471617894.webp.webp

Tàu sân bay USS George Washington. (Ảnh: AP)

Thuỷ thủ kiệt sức

Tàu sân bay USS George Washington đang rời Thái Bình Dương tới Trung Đông, dự kiến thay thế tàu USS Abraham Lincoln. Việc điều động này diễn ra sau khi xuất hiện thông tin về việc các thuỷ thủ trên tàu USS Abraham Lincoln gặp vấn đề về sức khỏe tinh thần và chịu cảnh thiếu thốn, khi phải làm nhiệm vụ quá lâu so với dự kiến.

Việc Mỹ không còn tàu sân bay tại Thái Bình Dương có thể chỉ trong thời gian ngắn, nếu Hải quân Mỹ điều tàu khác thay thế trong vài tháng tới.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng tình trạng này cho thấy những chiến dịch kéo dài không có thời hạn rõ ràng ở vùng biển gần Iran đang khiến nhiều thủy thủ Mỹ kiệt sức, trong khi chính quyền Tổng thống Donald Trump tiếp tục thu hẹp hiện diện tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương để tập trung vào Tây Bán cầu.

Theo ông Greg Poling – Giám đốc Chương trình Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), chính quyền Tổng thống Trump nói Mỹ coi Thái Bình Dương là ưu tiên quan trọng nhất sau Tây Bán cầu”, nhưng thực tế đang “làm điều hoàn toàn ngược lại”.

Ông Poling cho rằng các đồng minh của Mỹ tại Thái Bình Dương đang bất an trước sự khó đoán của chính quyền đương nhiệm ở Washington, còn Bắc Kinh “khá hài lòng với việc Mỹ bị phân tâm, cũng như sự thất vọng của các đồng minh và đối tác của Mỹ”. Bắc Kinh coi hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực là mối đe dọa.

Giới phân tích cho rằng khó có khả năng xảy ra một cuộc tấn công ở khu vực chỉ vì tàu sân bay Mỹ rời đi. Tuy nhiên, sự vắng mặt của tàu sân bay có thể tạo thêm cơ hội để đối thủ của Mỹ phô diễn sức mạnh, ông Bryan Clark – cựu sĩ quan tàu ngầm Hải quân Mỹ và hiện là chuyên gia phân tích quốc phòng tại Viện Hudson, nhận định.

“Trung Quốc đang sử dụng điều này như một phần của câu chuyện nhằm chứng minh với Philippines, Nhật Bản và các nước khác rằng Mỹ không còn là cường quốc số một ở Tây Thái Bình Dương. Họ muốn các nước trong khu vực nghĩ rằng Trung Quốc mới là cường quốc ở đây và Mỹ không còn khả năng đảm bảo an ninh cho họ, ông Clark nói với AP.

Đô đốc Frank Bradley – Tư lệnh Bộ Chỉ huy tác chiến đặc biệt Mỹ, đang nỗ lực trấn an các đồng minh trong khu vực về cam kết của Washington.

Ngày 13/8, ông có mặt tại Manila và nói với Philippines rằng lực lượng đặc nhiệm Mỹ sẵn sàng tăng cường các cuộc tập trận chung nhằm củng cố liên minh giữa hai nước. Ông dự kiến cũng sẽ tới Nhật Bản.

Ông Evan Sankey, chuyên gia phân tích chính sách tại Viện Cato, cho rằng tàu sân bay mang lại sự bảo đảm về tâm lý cho các đồng minh của Washington. Theo ông, việc không còn tàu sân bay Mỹ trong khu vực “làm gia tăng cảm giác chung rằng Mỹ đang bị phân tâm bởi những diễn biến ở Trung Đông”.

Có thể giảm hiện diện

Trong nhiệm kỳ này, Tổng thống Trump dựa nhiều vào đội tàu sân bay để hỗ trợ các hoạt động quân sự.

Tàu USS Gerald R. Ford trở về Mỹ vào giữa tháng 5, sau 11 tháng làm nhiệm vụ. Đó là đợt điều động dài nhất của một tàu sân bay Mỹ kể từ thập niên 70 của thế kỷ trước. Sau đó, con tàu hỗ trợ chiến dịch của Mỹ tấn công Iran và chiến dịch bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro.

Tàu USS Gerald R. Ford từng xảy ra hỏa hoạn tại khu vực giặt là, nên buộc phải quay lại Địa Trung Hải để sửa chữa và khiến hàng trăm thủy thủ không có chỗ ngủ.

Trong khi đó, tàu USS Abraham Lincoln có thời gian hoạt động liên tục trên biển kỷ lục – hơn 240 ngày. Các nghị sĩ Dân chủ đang kêu gọi điều tra và tăng cường giám sát điều kiện trên tàu.

Ông Robert Farley – giảng viên về an ninh quốc gia và ngoại giao tại Đại học Kentucky, cho rằng tàu chiến và thủy thủ đoàn chỉ có thể chịu đựng trong giới hạn nhất định.

“Con người không được nghỉ ngơi đầy đủ sẽ bị kiệt quệ về tâm lý. Nghỉ ngơi và phục hồi là một phần của việc duy trì sức khỏe thủy thủ đoàn”, ông Farley nói.

Nhà nghiên cứu Clark cho rằng áp lực với đội tàu sân bay Mỹ bắt nguồn từ việc Washington không chuẩn bị và lên kế hoạch đầy đủ cho cuộc chiến với Iran.

Theo ông, Hải quân Mỹ hiện có 11 tàu sân bay và thường triển khai 2-3 tàu cùng lúc. Con số này có thể sớm tăng lên 4 nếu tàu USS Theodore Roosevelt rời San Diego để tới Trung Đông, cho phép tàu Washington quay lại Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, những chiến hạm khổng lồ này sẽ cần được bảo dưỡng, nhiều khả năng gây ra tình trạng ùn tắc tại 2 xưởng đóng và sửa chữa tàu sân bay của Mỹ.

“Sẽ xảy ra tình trạng ‘nợ bảo dưỡng’ phải giải quyết trong vài năm tới. Có lẽ chúng ta sẽ thấy sự hiện diện của tàu sân bay giảm đi, bởi các tàu sẽ phải xếp hàng để vào xưởng”, ông Clark nói.

Nguồn

Exit mobile version