Đài Loan có các điểm thu phí điện tử không dừng, Trung Quốc vẫn duy trì trạm thủ công, trong khi Đức tính phí theo định vị từ vệ tinh.
Vài năm qua, giới chức toàn cầu nỗ lực hiện đại hóa hạ tầng đường bộ bằng các giải pháp thu phí tiên tiến, giảm cách thức truyền thống để giải quyết tình trạng ùn tắc. Trong đó, sự hợp tác giữa các hãng công nghệ, cơ quan quản lý giao thông và công ty công nghệ tài chính (fintech) đang góp phần thúc đẩy hệ thống thu phí tự động (ETC).
ETC là ý tưởng được khởi xướng bởi giáo sư kinh tế học người Mỹ William Vickrey từ năm 1959. Na Uy tiên phong áp dụng ETC rộng rãi từ 1986, trong khi Italy là nước đầu tiên triển khai trên đường cao tốc ở quy mô quốc gia năm 1989. Công nghệ này cũng dần được sử dụng ở nhiều nước phát triển khác như Mỹ, Nhật Bản hay châu Âu từ 1990.
ETC hiện có 4 công nghệ chính, cùng cơ chế sử dụng hệ thống không dây để tự động thu phí phương tiện. Đó là DSRC (giao tiếp tầm ngắn chuyên dụng), RFID (nhận dạng tần số vô tuyến điện), ANPR (nhận dạng biển số tự động) và GNSS (hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu).
Đài Loan (Trung Quốc) là ví dụ tiêu biểu của việc áp dụng thành công ETC. Công ty Far Eastern Electronic Tolling Company (FETC) được giao xây dựng và vận hành hệ thống ETC trên toàn bộ mạng lưới đường cao tốc tại Đài Loan.
Đầu năm 2006, FETC đã đưa vào vận hành các làn ETC thu phí theo lượt tại 23 trạm. Khi đó, các tài xế phải mua thiết bị gắn trên xe (OBU), gồm một thẻ và thiết bị đọc để vào làn ETC.
Năm 2012, eTag gắn kính chắn gió, sử dụng công nghệ nhận dạng tần số vô tuyến (RFID) mới được áp dụng. Tỷ lệ sử dụng ETC sau đó tăng vọt, đạt ngưỡng để Đài Loan áp dụng hệ thống thu phí theo quãng đường và đa làn không dừng (MLFF), với 319 giá long môn (gantry) trên mạng lưới đường bộ.
Cuối năm 2013, Đài Loan cũng trở thành nơi đầu tiên thay thế đồng loạt các trạm thu phí áp dụng mức cố định bằng hệ thống ETC tính phí theo quãng đường. Theo đó, mức phí được tính dựa trên quãng đường thực tế mà phương tiện di chuyển trên cao tốc. Việc này nhằm giải quyết tình trạng thiếu công bằng khi tài xế di chuyển quãng đường khác nhau, nhưng lại phải trả cùng một mức phí.
Theo Commonwealth Magazine, nền kinh tế này cũng là nơi đầu tiên trên thế giới có hệ thống thu phí điện tử với mạng lưới dài 926 km, chuyển đổi hoàn toàn sang các điểm thu không dừng.
Xe đi qua các giá long môn có gắn cảm biến để đo khoảng cách tại Đài Loan. Ảnh: Taiwan Business Topics
Tại Đài Loan, các xe được miễn phí 20 km mỗi ngày trên toàn mạng lưới cao tốc. Sau đó, phí được tính tùy vào loại xe và quãng đường, dao động 0,9-1,8 Đài tệ (0,02-0,05 USD) mỗi km. Người dùng eTag được giảm 10% phí, trừ vào ví trả trước hoặc thẻ tín dụng.
Xe không có eTag sẽ được camera tại mỗi cổng thu phí chụp lại biển số, sau đó hệ thống tự động tính quãng đường, số tiền cần trả. Tuy nhiên, nhóm này không được giảm 10%. Người dùng có thể tra cứu và thanh toán phí sau chuyến đi trên trang FETC hoặc tại các kiosk ở cửa hàng tiện lợi.
FETC thậm chí đã được xuất khẩu công nghệ này sang nhiều quốc gia, như Thái Lan hay Ấn Độ. Từ cuối tháng 7, hệ thống thu phí đa làn không dừng (MLFF) đã được đưa vào sử dụng tại Ấn Độ. Chính phủ nước này lên kế hoạch chuyển đổi 140 trạm, tương đương 10% trạm thu phí truyền thống, sang hệ thống mới. MLFF sẽ cho phép các phương tiện đi qua trạm thu phí không barrier và không phải giảm tốc.
Khoảng 10 năm trước, Ấn Độ bắt đầu áp dụng FASTag, sử dụng công nghệ nhận dạng tần số vô tuyến (RFID) tương tự hệ thống ETC của Đài Loan. Tuy nhiên, các tài xế vẫn phải dừng tại các trạm để hệ thống nhận diện thẻ.
Hệ thống đường cao tốc của Ấn Độ có tổng chiều dài 45.000 km, dài thứ hai thế giới và gấp khoảng 48 lần mạng lưới đường cao tốc của Đài Loan. Sự khác biệt về điều kiện giao thông và nhiệt độ cao vào mùa hè tại quốc gia này cũng gây thách thức trong quá trình lắp đặt hệ thống. Ví dụ, đường cao tốc của Ấn Độ có nhiều loại phương tiện cùng lưu thông, từ xe tuk-tuk đến xe đầu kéo.
Các cổng thu phí vì thế được trang bị camera nhận dạng biển số tự động (ANPR) – có khả năng nhận diện loại phương tiện và khung gầm, cùng các cảm biến ánh sáng LiDAR để phân biệt các loại phương tiện và loại trừ những xe được miễn phí.
Tại Trung Quốc đại lục, việc thu phí điện tử (ETC) hiện được dùng song song với thủ công (MTC). Nước này bắt đầu sử dụng ETC tại các đường cao tốc và bãi đỗ xe từ năm 1996.
Hơn 10 năm sau, họ đưa ra bộ tiêu chuẩn quốc gia cho hệ thống ETC và năm 2014 vận hành hệ thống này thống nhất trên cả nước.
Xe đi qua làn ETC phải sử dụng thiết bị ứng dụng công nghệ RFID, được lắp trên kính chắn gió, và liên kết với tài khoản đã đăng ký. Theo chính sách của Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc, các giao dịch ETC trên toàn quốc được giảm phí không dưới 5%. Các cổng ETC tự động nhận diện thiết bị tại điểm vào và ra của trạm thu phí mà phương tiện không phải dừng lại.
Trong khi đó, làn MTC có nhân viên thực hiện việc thu phí thủ công tại các bốt ở trạm thu phí đầu ra. Phí có thể được thanh toán bằng tiền mặt hoặc các ví điện tử, China Daily cho biết.

Các trạm thu phí tại Trung Quốc năm 2019. Ảnh: IC
Vài năm qua, giới chức Trung Quốc nhiều lần tuyên bố muốn đẩy nhanh quá trình phổ cập thu phí không dừng, nhằm giảm khí thải và chi phí logistics. Năm 2014, ông Wang Gang – Giám đốc trung tâm ETC thuộc Bộ Giao thông Trung Quốc cho biết các làn thu phí không dừng có năng suất gấp 5 lần làn MTC, giúp giảm thời gian xe di chuyển qua trạm thu phí từ 14 giây xuống 3 giây. Hiện tại, nước này có hơn 200 triệu người dùng ETC.
Trong khi đó, một số quốc gia trên thế giới, đặc biệt là châu Âu, lại áp dụng thu phí qua vệ tinh. Các phương tiện được gắn thiết bị định vị GPS để nhận tín hiệu vệ tinh, nhằm xác định quãng đường di chuyển tại khu vực cần thu phí. Sau đó, dữ liệu sẽ truyền về trung tâm để xác định vị trí phương tiện, tính toán và cuối cùng là tự động trừ phí dịch vụ.
Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (Global Navigation Satellite Systems – GNSS) lần đầu tiên được sử dụng để thu phí phương tiện đường bộ vào năm 2001 tại Thụy Sĩ. Hình thức thu phí này được sử dụng cho tất cả xe tải trên 3,5 tấn di chuyển trên toàn bộ mạng lưới đường bộ. Các xe này được gắn thiết bị có khả năng nhận tín hiệu GPS. Thiết bị đo quãng đường xe chạy qua đồng hồ đo tốc độ trong xe, sau đó đối chiếu với quãng đường đo qua vệ tinh.
Năm 2005, Đức cũng ra mắt hệ thống thu phí theo quãng đường dựa trên GNSS, áp dụng với đường cao tốc và cho xe tải trên 12 tấn. Thiết bị gắn trên xe (OBU) lưu trữ các thông tin liên quan đến phương tiện và tự động xác định vị trí của xe trên đường cao tốc bằng tín hiệu từ vệ tinh.
OBU tính phí bằng cách xác định đoạn đường mà phương tiện lưu thông có thuộc diện thu hay không, và áp mức tương ứng. Dữ liệu được truyền định kỳ về một trung tâm xử lý – nơi lưu trữ thông tin tính phí và gửi hóa đơn. Trong hai năm đầu hoạt động, hệ thống được đánh giá có độ chính xác trên 99,5%.
Thiết bị định vị trên xe phải được lắp đặt bởi thợ cơ khí được cấp phép. Tuy nhiên, tài xế cũng có thể chọn cách thu phí thủ công, nhằm phục vụ các phương tiện lưu thông trên cao tốc khi chưa kịp gắn bộ định vị GPS.
Hà Thu (tổng hợp)
